Hoàn thành phân định các xã, thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển giai đoạn 2021-2025

 Đường trục thôn từ trung tâm xã đến 3 thôn ĐBKK (Bản Pèo, Vằng Dọc, Khuổi Đẩy),

xã Bình Trung đi lại rất khó khăn nhất là mùa mưa

Cụ thể về xác định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Tổng số xã, thị trấn thuộc diện là: 20/20 xã, thị trấn. Tổng số thôn thuộc diện là: 228/228 thôn, tổ; Phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển: Địa bàn đặc biệt khó khăn: Xã khu vực III gồm 08 xã là Xuân Lạc, Tân Lập, Bản Thi, Bằng Phúc, Đại Sảo, Yên Mỹ, Yên Phong, Bình Trung. Thôn đặc biệt khó khăn có 15 thôn/8 xã, thị trấn gồm các thôn: Thôn Lũng Noong, Thôn Bản Quá, Thôn Bản Lồm (xã Nam Cường), Thôn Bó Pja, Thôn Khuổi Vùa (xã Quảng Bạch), Thôn Khuổi Lịa (xã Yên Thịnh), Thôn Bản Duồng 2, Thôn Bản Tàn, Thôn Nà Pài (thị trấn Bằng Lũng), Thôn Bản Cưa (xã Bằng Lãng), Thôn Nà Mèo, Thôn Pác Giả, Thôn Cốc Quang (xã Đồng Thắng), Thôn Bản Bẳng (xã Nghĩa Tá), Thôn Khôn Hên (xã Lương Bằng).  Địa bàn còn khó khăn (Xã khu vực II) gồm 01 xã: Nam Cường; Địa bàn bước đầu phát triển (xã Khu vực I) gồm 10 xã: Đồng Thắng, Yên Thượng, Bằng Lãng, Ngọc Phái, Phương Viên, Đồng Lạc, Quảng Bạch, Lương Bằng Nghĩa Tá, Yên Thịnh và Thị trấn Bằng Lũng. Xã An toàn khu có 07 xã: Yên Thịnh, Yên Thượng, Bản Thi, Bằng Lãng, Nghĩa Tá, Lương Bằng, Bình Trung.

Trên cơ sở kết quả phân định các xã, thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển giai đoạn 2021-2025 huyện tiến hành đánh giá phân tích biến động so với giai đoạn 2016-2020, cụ thể: Về số lượng xã, thôn: Toàn huyện có 22 xã, thị trấn (thuộc khu vực III là 04 xã, xã khu vực II là 15 xã, khu vực I là 03 xã). Tổng số thôn, tổ là 242. Đến cuối năm 2019, còn 228 thôn tổ (thực hiện sáp nhập 28 thôn thành 14 thôn mới). Đến tháng 3/2020, còn 20 xã thị trấn (thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính xã 04 xã thành 02  xã); Số thôn đặc biệt khó khăn (ngoài các xã khu vực III): có 28 thôn/07 xã, thị trấn thụ hưởng Chương trình 135. Đến cuối năm 2019 có 07 thôn hoàn thành Chương trình, hiện còn 21 thôn đặc biệt khó khăn.

Về cách xác định trong quá trình rà soát xã, thôn: Năm 2016, thực hiện rà soát theo Quyết định số 50/2016/QĐ-TTg ngày 03/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí xác định xã thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020; Năm 2020, thực hiện rà soát theo: Xác định xã, thôn thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi trên cơ sở Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 10/3/2020 của Chính phủ và xác định các xã thuộc khu vực III, khu vực II, khu vực I và các thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; Tại 02 văn bản nêu trên có hướng dẫn cách xác định căn cứ theo tiêu chí về tỷ lệ hộ nghèo ở địa bàn xã, thôn khác nhau (giai đoạn 2016-2020 áp dụng tỷ lệ cao hơn giai đoạn 2021-2025) nên có những biến động về xã, thôn khu vực III, khu vực II, khu vực I và các thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi là khác nhau trong giai đoạn 2016-2020 và dự kiến trong giai đoạn 2021-2025.

  Đường trục thôn từ trung tâm xã đến 3 thôn (Bản Quá, Bản Lồm, Lũng Noong),

xã Nam Cường đi lại rất khó khăn vào mùa mưa

Về tỷ lệ hộ nghèo đầu năm 2016 là 20,58% đến cuối năm 2019 tỷ lệ hộ nghèo còn 15,1%. Tổng tỷ lệ giảm là 5,48% so với đầu kỳ (bình quân mỗi năm giảm 1,37%), đạt 68,5% mục tiêu Nghị quyết số 09-NQ/HU của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XX về công tác giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 đề ra. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn giảm từ 6,8% cuối năm 2016 xuống còn 6,11% cuối năm 2019; Giảm tỷ lệ hộ cận nghèo: Giảm từ 11,02% đầu năm 2016 xuống còn 10,52% cuối năm 2019. Số hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm đều giảm so với năm trước.

Hiện có 19/19 xã có đường ô tô đến trung tâm xã đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, trong đó 15/21 xã có đường quốc lộ, tỉnh lộ, liên tỉnh chạy qua; 6/19 xã có đường liên xã đã được đầu tư đường giao thông được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đến trung tâm xã, đảm bảo đi lại thuận tiện quanh năm. Số thôn có đường trục giao thông được cứng hóa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định: 196 thôn, chiếm 85,9%. Số xã đạt chuẩn nông thôn mới là 02/19 xã. Số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã: 11/19 xã, chiếm 57,8%; Số xã có Trạm y tế đủ điều kiện khám chữa bệnh bảo hiểm y tế là 19/19 xã; Có 20 xã, thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập và phổ biến kiến thức cho người dân.

Trên cơ sở kết quả rà soát, Uỷ ban nhân dân huyện có báo cáo đề nghị Ban Dân tộc tỉnh xem xét, tổng hợp báo cáo trình Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Ủy ban Dân tộc xem xét trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, Quyết định công nhận các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các xã, thị trấn thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, địa bàn khó khăn, địa bàn bước đầu phát triển tại huyện Chợ Đồn./.

Bài trướcChợ Đồn ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc thời kỳ phòng, chống dịch COVID-19
Bài tiếp theoCác cơ quan, đơn vị nghiêm túc thực hiện giãn cách xã hội vẫn đảm bảo nhiệm vụ chuyên môn